
Nguyễn Trung Trực (1838 – 1868)
– Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1828 tại xóm nghề thôn BÌnh Nhựt, tổng Cửu Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thạnh Đức, Bến Lức, tỉnh Long An).
– Thuở nhỏ, ông có tên là Chơn.
– Nguyên quán gốc Nguyễn Trung Trực ở xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, BÌnh Định.
– Khi chiến tranh Tây Sơn nổ ra, gia đình ông Nguyễn Văn Đạo (ông nội của Nguyễn Trung Trực) chạy giặc vào tỉnh Long An và sinh sống bằng nghề chài lưới vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ Đông.
– Nguyễn Trung Trực được học văn võ tại Bảo Định, Định Tường. Đặc biệt năm 1858 – 1859, ông đoạt giải quán quân võ đài tại Cai Tài, phủ lỵ Tân An. Võ sinh các môn phái tham gia võ đài đều tôn Nguyễn Trung Trực làm thủ lĩnh Dân quân tham gia đánh giặc Pháp.
– Tháng 2 năm 1859, Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định. Vốn xuất thân là dân chài, nằm trong hệ thống lính đồn điền của kinh lược Nguyễn Tri Phương, nên ông sốt sắng theo và còn chiêu mộ được một số nông dân vào lính để gìn giữ Đại đồn Chí Hòa.
– Trong thời gian dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Tri Phương nhưng không được trọng dụng nên ông lui về Tân An. Tại quê nhà, ông tuyên thệ xuất quân ngày 10 tháng 3 năm 1860, đầu quân tại thành Kỳ Hòa dưới quyền chỉ huy của Trương Định và được phong là quyền sung Quản binh đạo, và khi thành Kỳ Hòa thất thủ, ông lại lui về phủ Tân An chống giặc.
– Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ ngày 25 tháng 1 năm 1861, Nguyễn Trung Trực về Tân An.
– Đến ngày 12 tháng 4 năm 1861, thành Gia Định thất thủ, quân Pháp kiểm soát vùng Mỹ Tho, thường cho tàu chiến vừa chạy tuần tra vừa làm đồn nổi di động. Một trong số đó là chiếc tiểu hạm L’Esperance, án ngữ nơi vàm Nhật Tảo.
– Vào khoảng sáng ngày 10 tháng 12 năm 1861, Nguyễn Trung Trực cùng quyền sung Phó Quản binh đạo Huỳnh Khắc Nhượng, Võ Văn Quang, quản toán Nguyễn Học, và hương thôn Hồ Quang Chiêu… tổ chức đám cưới giả phục kích đốt cháy chiến hạm L’Esperance.

– Trận này quân của Nguyễn Trung Trực đã diệt 17 lính và 20 cộng sự người Việt, chỉ có 8 người trốn thoát.
– Lúc đó, viên sĩ quan chỉ huy tàu là trung úy hải quân Parfait không có mặt, nên sau khi hay tin dữ, Parfait đã dẫn quân tiếp viện đến đốt cháy nhiều nhà cửa tỏng làng Nhật Tảo để trả thù.
– Sau lần đốt được tàu L’Esperance của Pháp, Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân tiếp tục chiến đấu qua lại trên địa bàn Gia Định. Khi Hòa ước Nhâm Tuất 1862 được ký, ba tỉnh miền Đông lọt vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Trung Trực không rời 3 tỉnh miền Đông, phối hợp với lãnh binh Trương Định đánh giặc Pháp.
– Sau khi Trương Định hi sinh, triều đình hối thúc rời 3 tỉnh miền Đông nên Nguyễn Trung Trực đem quân về miền Tây lập căn cứ nhiều nơi chống Pháp.
– Đầu năm 1867, ông được triều đình phong chức Hà Tiên thành thủ úy để trấn giữ đất Hà Tiên, nhưng ông chưa kịp đến nơi thì tòa thành này đã bị quân Pháp chiếm mất vào ngày 24 tháng 6 năm 1867.
– Không theo lệnh triều đình rút quân ra Bình Thuận, Nguyễn Trung Trực đem quân về lập mật khu ở Sân chim kháng Pháp với danh hiệu Dân chúng tự vệ. Từ nơi này, ông lại dẫn quân đến Hòn Chông, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, lập thêm căn cứ kháng Pháp.
– Ở Kiên Giang, sau khi nắm được tình hình của đối phương và tập trung xong lực lượng, vào 4 giờ sáng ngày 16 tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực bất ngờ dẫn quân từ Tà Niên đánh úp đồn Kiên Giang.
– Kết thúc trận chiến, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực chiếm được đồn, tiêu diệt được 5 viên sĩ quan Pháp, 67 lính, thu trên 100 khẩu súng cùng nhiều đạn dược và làm chủ tình hình được 5 ngày liền.
– Hai ngày sau, quân Pháp mang quân cứu viện từ Vĩnh Long sang tiếp cứu. Ngày 21 tháng 6 năm 1868, Pháp phản công, Nguyễn Trung Trực phải lui về Hòn Chông rồi ra đảo Phú Quốc, lập chiến khu tại Cửa Cạn nhằm kình chống đối phương lâu dài.

– Sau những chiến công vang dội của Nguyễn Trung Trực, giặc Pháp thất điên bát đảo, điên cuồng truy sát ông và nghĩa quân. Chúng tàn sát 700 người dân Rạch Giá để trả thù trận tấn công đồn Kiên Giang.
– Chúng treo giải thưởng 500 đồng và quan chức cho ai bắt được ông hoặc dâng thủ cấp. Độc ác hơn, chúng bắt mẹ ông, đồng bào và trẻ con mà mỗi ngày chúng đem bắn mấy người, bắn cho đến khi nào Nguyễn Trung Trực ra đầu hàng mới thôi.
– Theo giai thoại kể lại rằng, năm 1868, trong lúc nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực bị quân Pháp bao vây, phu nhân của ông từ Ba Trại tổ chức vượt đường trốn ra. Bà đi bằng ghe theo dòng sông Cửa Cạn để ra biển, có ý vượt biển vào đất liền. Nhưng vào mùa cửa sông bị cát lấp, ghe bà bị mắc kẹt tại đây. Bà đang có mang, vì đường xá vất vả, vận động quá sức, bà sanh non giữa một đêm mưa gió hãi hùng tại Cửa Cạn. Biển động thét gào.
– Quân Pháp bao vây, bà không còn phương kế thoát thân, dân chúng các xóm đều bị quân Pháp bắt gom hết về thị trấn Dương Đông, không ai đến chăm sóc cho bà được. Sức bà cùng kiệt giữa đêm mưa. Bà bị băng huyết mà chết.
– Có mấy ngư dân gan góc, lần mò qua mắt quân Pháp, cốt tìm theo bảo vệ bà. Nhưng khi tìm đến nơi, thì hai mẹ con bà đã không còn sống. Họ lén mang thi hài hai mẹ con bà giấu vào một bọng cây. Sau đó tạm yên, dân chúng đem hài cốt hai mẹ con bà chôn cất tử tế.
– Ngày 19 tháng 9 năm 1868, Nguyễn Trung Trực, hầu cứu lấy nghĩa quân và nhân dân khỏi bị quân Pháp tàn sát, ông đã chấp nhận hy sinh nộp mình cho giặc.
– Bọn Pháp hí hửng vì bắt được ông, chúng giở trò đối xử tử tế, rút quân và đưa ông từ Rạch Giá về Sài Gòn bằng tàu Hải Âu. Suốt chặn đường một ngày một đêm, tên Việt gian Huỳnh Công Tấn cố hết sức khuyên ông theo Pháp để hưởng vinh hoa phú quý, chức tước, lợi lộc nhưng ông gác ngoài tai và khẳng khái nói: “Tôi muốn làm một chức thôi, chức gì mà có quyền chặt đầu tất cả bọn Tây xâm lược…”.
– Ông bị Pháp đưa lên giam ở Khám Lớn Sài Gòn để lấy khẩu cung. Và rồi ngày 27 tháng 10 năm 1868, nhà cầm quyền Pháp đã đưa ông ra pháp trường Rạch Giá hành hình.
– Trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của ông, có hai chiến công nổi bật, đã được danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt khen ngợi bằng hai câu thơ sau:
“Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần”

