– Trại giam Phú Quốc – địa ngục trần gian nằm trên địa bàn An Thới, thành phố Phú Quốc. Theo sách “Di tích lịch sử nhà lao Phú Quốc”, do nhà xuất bản Lao động phát hành, từ năm 1941 – 1944, thực dân Pháp đã đưa tù nhân ra đảo Phú Quốc thiết lập 3 trại tù, giam cầm khoản 1000 người và sau đó giải thể. (Googlemaps).
– Trại giam Phú Quốc là một trong những di tích lịch sử hào hùng, thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Mọi người đều có sự tò mò và mong muốn tìm hiểu những câu chuyện thời chiến cùng những tội ác dã man đối với những chiến sĩ, đồng bào yêu nước thời Mỹ – Nguỵ, Pháp thuộc.
SƠ LƯỢC VỀ DI TÍCH NHÀ TÙ PHÚ QUỐC

– Trại giam Phú Quốc – địa ngục trần gian nằm trên địa bàn An Thới, thành phố Phú Quốc. Theo sách “Di tích lịch sử nhà lao Phú Quốc”, do nhà xuất bản Lao động phát hành, từ năm 1941 – 1944, thực dân Pháp đã đưa từ nhân ra đảo Phú Quốc thiết lập 3 trại tù, giam cầm khoản 1000 người và sau đó giải thể.
– Tháng 6 năm 1953, Pháp tái lập Trại giam tù binh Căng Cây Dừa (còn gọi là Trại giam Cây Dừa) lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ, diện tích khoản 40ha, giam giữ các chiến sĩ, cán bộ kháng chiến cả ba miền Bắc, Trung, Nam và lúc đông nhất lên đến 14.000 tù binh. Và khi Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, việc trao trả tù binh được tiến hành, trại giam bị xóa bỏ. Cuối năm 1955, trên nền Trại giam Cây Dừa – Phú Quốc, Mỹ – ngụy tiếp tục lập một trại tù với tên gọi Trại Huấn chính Cây Dừa (còn gọi là Nhà lao Cây Dừa) giam giữ gần 1000 tù binh, tù chính trị và đến tháng 3 năm 1957 thì chấm dứt hoạt động.
– Năm 1967, chúng xây dựng lại, lấy tên là Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam để giam cầm, đày đọa các chiến sĩ cách mạng với quy mô, số lượng lớn nhất Việt Nam.
– Diện tích trại giam khoản 400 ha, phân ra 12 khu, với gần 500 nhà giam. Giai đoạn 1967 – 1973, lúc cao điểm tại trại giam này, địch bắt, giam giữ hơn 40.000 chiến sĩ cách mạng. Bọn chúng đã sử dụng mọi thủ đoạn thâm độc và tàn bạo với hơn 45 kiểu tra tấn dã man, tàn bạo, thế nhưng không thể làm nhụt chí của những người tù yêu nước


– Đến năm 1995, nơi đây được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích cấp Quốc gia đặc biệt, cũng kể từ đó, Trại giam Phú Quốc mở cửa cho du khách đến tham quan.
KHU VỰC THAM QUAN
– Di tích Trại giam Phú Quốc là địa điểm tham quan nổi tiếng du khách nhất định phải ghé thăm khi đến đảo ngọc Phú Quốc. Tại đây du khách sẽ được chứng kiến hơn 40 kiểu tra tấn được mô phỏng qua những mô hình tù nhân và cai ngục. Đồng thời, du khách sẽ cảm thấy khâm phục sự kiên cường, bền bỉ của quân dân Việt Nam trước tội ác của để quốc thực dân.

– Khi đến đây, du khách sẽ được nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận được nỗi đau thể xác và tinh thần của những tù binh dưới sự tra tấn vô cùng dã man của kẻ thù.
– Hiện nay, di tích Trại giam Phú Quốc (nhà tù Phú Quốc) còn giữ lại một số hạng mục bao gồm:
– Cổng Tiểu đoàn 8 quân cảnh: Được phục dựng giống hoàn toàn với bản gốc, cổng Tiểu đoàn 8 quân cảnh được làm bằng lõi trụ sắt và gạch đặc, tạo thành 2 trụ vuông hai bên.
– Nghĩa địa tù binh: Có diện tích 20.427,8 mét vuông, nằm ở khu vực đồi 100, cách điểm Trại giam – phân khu B2 khoản 1km. Ở khu trung tâm của khu này được thiết kế hình tròn, chính giữa có khối chữ nhật và ở bên trên là tượng đài hình nắm đấm – thể hiện ý chí kiên cường của các chiến sĩ.
– Nhà thờ Kiến Văn: Có diện tích hơn 4000 mét vuông, tuy nhiên hiện tại nơi đây chỉ còn là phế tích với vài mảnh tường, nền xi măng và các cột góc tường.
– Nhà trưng bày bổ sung di tích: Nơi đây được chia thành 2 gian phòng với 43 hiện vật vật và hơn 100 hình ảnh tư liệu về lịch sử của nhà tù Phú Quốc.
– Phân khu B2: Được phục dựng với diện tích hơn 17.000 mét vuông, gồm nhiều hạng mục, tái hiện sống động nhất về khu di tích.
– Đài tưởng niệm liệt sĩ tại Đồi Sim: Được thiết kế với hai bên là biểu tượng hình ngọn sóng, cao khoảng 5 mét, ở giữa là hình khối nhọn khoét rỗng với ý nghĩa “những con người ra đi từ nơi ấy”.
– Cổng Tiều đoàn 7 quân cảnh: Được làm lại bằng lõi trụ sắt và gạch chỉ đặc, tạo thành 2 trụ vuông hai bên với chiều cao 4.1 mét và rộng 0.85 mét.
– Cổng và nhà Ban Chỉ huy trại giam: Đây là hai khu vực đã được phục dựng lại bằng bê tông cốt thép, mái lợp tôn và cửa sổ bằng gỗ. Ngoài ra, cổng chính được làm bằng các thanh sắt ấp chiến lược và dây kẽm gai.
CHUYỆN VƯỢT NGỤC QUA LỜI KỂ CỦA NHÂN CHỨNG SỐNG

– Vào đêm. 23.12.1971, các chiến sĩ đã đào được một đường hầm dài 80m để thành công thoát ra ngoài, có 41 tù binh thoát ra từ đường hầm đó. Người ta nói rằng, đây là cuộc vượt ngục bằng đường hầm ly kỳ hiếm có trên thế giới.
– Một trong những người tham gia đào hầm là ông Nguyễn Đức Hoè, nguyên cán bộ trường đại học Cần Thơ. Ông Hoè được bí thư chi bộ tin tưởng giao trọng trách chỉ huy tổ đào hầm.
– Căn nhà mà ông Hoè bị giam nằm phía trong cùng phân khu. Được sự đồng ý của Đảng ủy phân khu, đêm 18.07.1971, anh em tiến hành “khởi công” đào hầm.
– Ông Hoè là người đào đầu tiên. Sau khi đường hầm được khoét ra một hố vừa đủ thân người, đầu ông vẫn còn nhô lên mặt đất thì quân cảnh đột ngột vào kiểm tra. Đồng đội vội đè đầu ông xuống và đậy nắp hầm lên. Ông Hoè cố nén người cho lọt vào trong. Khi quân cảnh rút đi, đồng đội vội kéo lên thì ông đã ngất xỉu do thiếu không khí, anh em phải hô hấp nhân tạo hồi lâu ông mới tỉnh lại. Ông bảo nếu thêm 5 phút nữa chắc ông đã chết.
– Đến cuối tháng 11, đường hầm đã vượt qua lớp hàng rào cuối cùng, gặp đoạn hào sâu 3m thì phải đào sâu xuống 4-5m để tránh. Sau đó tiếp tục vượt qua con đường tuần tiễu ra tới giao thông hào giáp bãi cỏ tranh. Như vậy, sau hơn 5 tháng đào, chiều dài hầm lên tới hơn 80m với khối lượng đất đào ra khoản 50m3.
– Thời điểm thuận lợi khui cửa hầm để thoát ra được Đảng ủy chọn vào đêm 23.12.1971 vì đêm đó bọn lính thường ăn chơi, nhậu nghẹt nhân dịp lễ Noel. Lúc đầu, chi bộ quyết định chỉ thoát ra 30 người gồm 23 người thay nhau đào hầm và 7 cán bộ chủ chốt. Nhưng đêm đó thấy tình hình thuận lợi, ta thoát ra 41 người.
– Tổ 3 chiến sỹ đặc công ra đầu tiên lúc 9 giờ 30 có nhiệm vụ đi trước gỡ mìn và giăng dây nylon định hướng. Người cuối cùng ra lúc 4 giờ sáng. Đó cũng là lúc bị quân cảnh phát hiện, nhưng phần lớn tù binh đã đi xa trại. Kết quả, có 26 người đào thoát thành công, 9 người bị bắt trở lại, 6 người hy sinh trên đường đi. Đây là cuộc vượt ngục bằng đường hầm thành công nhất trong lịch sử Trại giam tù binh Phú Quốc.
– Riêng ông Nguyễn Đức Hoè, ông là người ra thứ 21, lúc đó khoản hơn 12 giờ đêm. Tổ của ông đi đến rạch Đầu Sấu thì trời sáng, phải ém lại chờ đến tối mới đi tiếp. Quân cảnh truy tìm, bủa vây khắp nơi. Đêm 28.12 gặp địch phục kích gần đồn Hàm Ninh, một đồng chí hy sinh. Sau 10 ngày băng rừng vượt suối, ăn quả xanh, rau rừng, tổ của ông mới về đến chiến khu của huyện đảo. Tại đây, ông gia nhập lực lượng vũ trang, cùng họ chiến đấu thêm nhiều trận chiến nữa.

