Ký ức của những tù binh tại Trại giam Phú Quốc

Ký ức của những tù binh tại Trại giam Phú Quốc

– Hàng năm vào mùa hè, tại Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Trại giam tù binh Việt Nam – Phú Quốc (gọi tắt là Trại giam Phú Quốc) ở thành phố Phú Quốc đón rất nhiều du khách tới thăm.

– Du khách về đây đều trong tâm trạng xúc động 50 năm trôi qua, mọi thứ đổi thay, nhưng Trại giam Phú Quốc mãi là dấu tích của gần 40.000 chiến sĩ cộng sản yêu nước Việt Nam. Và những ngày, khi về thăm lại Trại giam Phú Quốc – nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian”, những cựu tù vẫn không quên những đòn đánh đập, tra tấn, hành hạ độc ác, rùng rợn mà bọn cai tù đã trút lên mình những chiến sĩ cộng sản.

– Men theo con đường nhỏ dẫn đến cổng Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam – Phú Quốc, ngay từ xa, nhiều người không khỏi rùng mình khi chứng kiến gần chục lớp hàng rào dây thép gai sắc nhọn, đâu đó là những phiên bản lính canh giống như người thật đang cầm súng canh gác, lạnh lùng. Tiếng cửa sắt rít lên những âm thanh nặng nề rồi từ từ mở ra khiến mọi người đều cảm nhận được không khí của Trại giam thực dân, đế quốc khét tiếng tàn bạo trước đây.

– Lẫn trong đoàn người từ khắp mọi miền Tổ quốc đến viếng Trại giam, phóng viên may mắn gặp và trò chuyện với ông Phù Xí Khiếu, cựu tù binh Phú Quốc từ năm 1971 đến 1973. Hồi tưởng về quá khứ, ông Khiếu xúc động cho biết: “Trở lại Phú Quốc sau 50 năm chiến thắng trở về, tôi rất đỗi vui mừng, nhưng cũng không cầm được nước mắt. Vui vì được trở lại thăm nơi mình bị đich bắt, tra tấn, tận mắt nhìn thấy sự đổi thay, phát triển của Phú Quốc hôm nay. Buồn không cầm được nước mắt vì nhớ đến đồng đội năm xưa đã ngã xuống. Họ đã cùng tôi chiến đấu kiên trung, bất khuất đến hơi thở cuối cùng.”

– Trại giam Phú Quốc – địa ngục trần gian nằm trên địa bàn An Thới, thành phố Phú Quốc. Theo sách “Di tích lịch sử nhà lao Phú Quốc”, do nhà xuất bản Lao động phát hành, từ năm 1941 – 1944, thực dân Pháp đã đưa từ nhân ra đảo Phú Quốc thiết lập 3 trại tù, giam cầm khoản 1000 người và sau đó giải thể.

– Tháng 6 năm 1953, Pháp tái lập Trại giam tù binh Căng Cây Dừa (còn gọi là Trại giam Cây Dừa) lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ, diện tích khoản 40ha, giam giữ các chiến sĩ, cán bộ kháng chiến cả ba miền Bắc, Trung, Nam và lúc đông nhất lên đến 14.000 tù binh. Và khi Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, việc trao trả tù binh được tiến hành, trại giam bị xóa bỏ. Cuối năm 1955, trên nền Trại giam Cây Dừa – Phú Quốc, Mỹ – ngụy tiếp tục lập một trại tù với tên gọi Trại Huấn chính Cây Dừa (còn gọi là Nhà lao Cây Dừa) giam giữ gần 1000 tù binh, tù chính trị và đến tháng 3 năm 1957 thì chấm dứt hoạt động.

– Năm 1967, chúng xây dựng lại, lấy tên là Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam để giam cầm, đày đọa các chiến sĩ cách mạng với quy mô, số lượng lớn nhất Việt Nam.

– Diện tích trại giam khoản 400 ha, phân ra 12 khu, với gần 500 nhà giam. Giai đoạn 1967 – 1973, lúc cao điểm tại trại giam này, địch bắt, giam giữ hơn 40.000 chiến sĩ cách mạng. Bọn chúng đã sử dụng mọi thủ đoạn thâm độc và tàn bạo với hơn 45 kiểu tra tấn dã man, tàn bạo, thế nhưng không thể làm nhụt chí của những người tù yêu nước.

– Với ý chí kiên cường, dũng cảm mưu trí, các tù binh đã đấu tranh với chúng bằng nhiều hình thức, phân hóa hàng ngũ địch, diệt ác ôn… Đã có rất nhiều cuộc vượt ngục bằng cách đào hầm được những người tù thực hiện chỉ với những dụng cụ hằng ngày như ca cà mèn, thìa, cọc sắc….

– Nhớ là những lần tổ chức vượt ngục, ông Nguyễn Văn Mỹ (tên chiến đầu là Nguyễn Ngọc Toản hay còn gọi là Ba Toản) – người chỉ huy nhóm tù binh phân khu B2 chui rào vượt ngục đêm 22 tháng 5 năm 1968 cho biết, nhóm ông Toản lúc đầu có 3 người, vượt ngục bằng cách cắt rào, chui và vượt rào. Nhưng khi sắp hành động thì xuất hiện thêm 2 nhóm mới: một nhóm 3 người và nhóm 5 người cũng đi theo. Anh em thường lợi dụng những đêm trời mưa to, bọn lính gác ngồi trên cao bị mưa hắt vào phải lo che chắn, sao lãng việc canh gác, hoặc khi trời mưa, mát trời, tranh thủ chúng ngủ gật để cắt rào vượt ngục.

– Thông thường, anh em phải vượt qua 6 lớp rào cào vây quanh trại và nhiều lớp rào thấp khác có gài pháo sáng và mìn nên rất khó thoát. Qua tính toán, anh em lựa chọn chui rào ra ban đêm để dễ ẩn nấp. Hình thức chui vượt ngục lúc đầu khá thành công nhưng càng về sau địch càng cảnh giác nên thường bị tổn thất. “Gồng mình trước những đòn tra tấn của địch gần như không còn con đường sống, nhiều anh em, đồng chí may mắn thoát chết, trong đó có tôi. Kẻ địch càng tra tấn tàn bạo thì càng làm bừng lên khí phách kiên trung, bất khuất của người cộng sản, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ Quốc, với nhân dân. Tôi và đồng đội vẫn kiên cường đấu tranh chống lại kẻ thù, tìm mọi cách, mọi hình thức có thể để sớm về với cách mạng, với Đảng, vững chắc niềm tin nhất định đánh thắng, kẻ thù xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc.”, ông Mỹ nói.

CUỘC VƯỢT NGỤC CỦA NHỮNG CHIẾN SĨ VIỆT NAM 

– Từ năm 1967 – 1972, nhà tù Phú Quốc đã có tất cả 41 cuộc vượt ngục với khoản 300 tù nhân trốn thoát.

– Người Việt Nam đã cho thế giới thấy ý chí sắt đá, lòng trung kiên, anh dũng. Nơi đây những chiến sĩ cách mạng đã khiến cái chết cũng phải gục đầu để mầm sống vươn xanh. Không gục ngã trước các đòn tra tấn ác độc, căm phẫn sự tàn ác của địch, đã có hàng trăm cuộc đấu tranh, tổ chức vượt ngục bằng cách đào hầm thông qua khu trại giam.

– Việc đào hầm vô cùng khó khăn. Các chiến sĩ cách mạng dùng mọi vật dụng có thể để đào hầm như: nắp cà mèm đựng cơm, những chiếc muỗng inox ăn cơm, lợi dụng đêm khuya tiến hành đào hầm. Miệng hầm chọn vị trí dưới giường của tù nhân bị bệnh nan y để tránh sự kiểm tra của cai ngục.

– Ròng rã nhiều tháng trời, đường hầm vượt ngục mới hoàn thành. Cứ thế trong suốt 4 tháng kiên trì đào liên tục, các chiến sĩ đã đào thông được đường hầm dài khoảng 120 mét. Theo lối đi đã được mở rộng tới phòng giam số 13 ở phân khu B2 – nơi đường hầm đầu tiên ở Nhà tù Phú Quốc được thực hiện vào cuối năm 1969. Đường hầm có chiều dài khoảng 120m, miệng hầm rộng 45cm và được đào ngay dưới tấm phản gỗ, cách mặt đất chừng 30cm. Dụng cụ đào hầm được tù nhân làm từ nắp cặp lồng, muỗng ăn cơm, cọng kẽm gai. Những ngày mưa, đất moi lên được đổ ra vách lán và nước mưa xối sạch. Còn ngày nắng, anh em tù nhân cho đất vào túi quần và mỗi lần được ra ngoài thì mang theo đổ. Chỉ bằng cách ấy mà sau 4 tháng, đường hầm đã hoàn thành.

– Điều kỳ lạ là không có la bàn, chỉ đào bằng muỗng ăn cơm và nắp cặp lồng, cọng kẽm gai và đào vào ban đêm khi bọn địch không còn giám sát mà đường hầm vẫn xuyên qua con đường ôtô thường chạy, xuyên qua hàng rào dây thép gai và vị trí miệng hầm ở sát bìa rừng. Có lẽ, chỉ có nỗi khát khao tự do cháy bỏng, niềm tin mãnh liệt vào cách mạng mới có thể dẫn lối để những người tù Phú Quốc làm được điều phi thường ấy. Cuộc vượt ngục đầu tiên bằng đường hầm thành công đã khích lệ các chiến sĩ tù cách mạng ở Phú Quốc và trở thành nỗi khiếp sợ của quân địch. Về sau, chúng tìm mọi cách đề phòng tù nhân đào hầm bằng cách đóng cọc sắt hàng rào sâu 2m rồi làm sân nền xi măng phía ngoài, hoặc cứ 3 – 4 tháng đảo trại 1 lần để chống đào hầm vượt ngục.

CHUYỆN VƯỢT NGỤC QUA LỜI KỂ CỦA NHÂN CHỨNG SỐNG

– Vào đêm. 23.12.1971, các chiến sĩ đã đào được một đường hầm dài 80m để thành công thoát ra ngoài, có 41 tù binh thoát ra từ đường hầm đó. Người ta nói rằng, đây là cuộc vượt ngục bằng đường hầm ly kỳ hiếm có trên thế giới.

– Một trong những người tham gia đào hầm là ông Nguyễn Đức Hoè, nguyên cán bộ trường đại học Cần Thơ. Ông Hoè được bí thư chi bộ tin tưởng giao trọng trách chỉ huy tổ đào hầm.

– Căn nhà mà ông Hoè bị giam nằm phía trong cùng phân khu. Được sự đồng ý của Đảng ủy phân khu, đêm 18.07.1971, anh em tiến hành “khởi công” đào hầm.

– Ông Hoè là người đào đầu tiên. Sau khi đường hầm được khoét ra một hố vừa đủ thân người, đầu ông vẫn còn nhô lên mặt đất thì quân cảnh đột ngột vào kiểm tra. Đồng đội vội đè đầu ông xuống và đậy nắp hầm lên. Ông Hoè cố nén người cho lọt vào trong. Khi quân cảnh rút đi, đồng đội vội kéo lên thì ông đã ngất xỉu do thiếu không khí, anh em phải hô hấp nhân tạo hồi lâu ông mới tỉnh lại. Ông bảo nếu thêm 5 phút nữa chắc ông đã chết.

– Đến cuối tháng 11, đường hầm đã vượt qua lớp hàng rào cuối cùng, gặp đoạn hào sâu 3m thì phải đào sâu xuống 4-5m để tránh. Sau đó tiếp tục vượt qua con đường tuần tiễu ra tới giao thông hào giáp bãi cỏ tranh. Như vậy, sau hơn 5 tháng đào, chiều dài hầm lên tới hơn 80m với khối lượng đất đào ra khoản 50m3.

– Thời điểm thuận lợi khui cửa hầm để thoát ra được Đảng ủy chọn vào đêm 23.12.1971 vì đêm đó bọn lính thường ăn chơi, nhậu nghẹt nhân dịp lễ Noel. Lúc đầu, chi bộ quyết định chỉ thoát ra 30 người gồm 23 người thay nhau đào hầm và 7 cán bộ chủ chốt. Nhưng đêm đó thấy tình hình thuận lợi, ta thoát ra 41 người.

– Tổ 3 chiến sỹ đặc công ra đầu tiên lúc 9 giờ 30 có nhiệm vụ đi trước gỡ mìn và giăng dây nylon định hướng. Người cuối cùng ra lúc 4 giờ sáng. Đó cũng là lúc bị quân cảnh phát hiện, nhưng phần lớn tù binh đã đi xa trại. Kết quả, có 26 người đào thoát thành công, 9 người bị bắt trở lại, 6 người hy sinh trên đường đi. Đây là cuộc vượt ngục bằng đường hầm thành công nhất trong lịch sử Trại giam tù binh Phú Quốc.

– Riêng ông Nguyễn Đức Hoè, ông là người ra thứ 21, lúc đó khoản hơn 12 giờ đêm. Tổ của ông đi đến rạch Đầu Sấu thì trời sáng, phải ém lại chờ đến tối mới đi tiếp. Quân cảnh truy tìm, bủa vây khắp nơi. Đêm 28.12 gặp địch phục kích gần đồn Hàm Ninh, một đồng chí hy sinh. Sau 10 ngày băng rừng vượt suối, ăn quả xanh, rau rừng, tổ của ông mới về đến chiến khu của huyện đảo. Tại đây, ông gia nhập lực lượng vũ trang, cùng họ chiến đấu thêm nhiều trận chiến nữa.